Thực trạng KT - XH của huyện Sơn Động

Bên cạnh những thuận lợi do được Nhà nước đầu tư các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội đối với huyện đặc biệt khó khăn, nhất là Chương trình 30a của Chính phủ về giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo, Sơn Động còn nhiều khó khăn do xuất phát điểm nền kinh tế còn thấp, nguồn thu ngân sách hạn hẹp, hạ tầng kinh tế thấp kém, trình độ dân trí hạn chế và không đồng đều, thời tiết diễn biến phức tạp khó lường. Song được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước các cấp, trên hết là phát huy nguồn lực nội sinh và ý chí vươn lên mạnh mẽ, cán bộ và nhân dân các dân tộc trong huyện đã đoàn kết vượt qua khó khăn, linh hoạt, sáng tạo trong lao động sản xuất và công tác, đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển KT, VH, XH, đảm bảo ANQP, từng bước cải thiện và nâng cao cuộc sống người dân.

Về kinh tế, huyện luôn duy trì tốc độ tăng trưởng khá, năm sau cao hơn năm trước, giá trị sản xuất tăng bình quân hàng năm 12,67%. Giá trị sản xuất của một số ngành chủ yếu năm 2012 đạt 613,991 tỷ đồng, tăng 11,5% so với năm 2011. Trong đó: nông, lâm nghiệp và thủy sản 270,481 tỷ đồng, tăng 2,24%; công nghiệp và xây dựng đạt 144,66 tỷ đồng, tăng 19,11%; thương mại và dịch vụ đạt 198,85 tỷ đồng tăng 20,76% so với cùng kỳ. Cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp- thủy sản chiếm 66,2%; Công nghiệp - xây dựng chiếm 18,9%; dịch vụ - thương mại chiếm 14,9%; thu nhập BQ đầu người trên 12 triệu đồng/năm,  đời sống của nhân dân được nâng lên rõ rệt. 

 

Nhờ đẩy mạnh áp dụng KHKT, đưa các cây trồng mới vào sản xuất, huyện Sơn Động đã vượt mục tiêu 27.000 tấn lương thực/năm do NQ Đại hội Đảng bộ huyện  khóa XXIV đề ra đến năm 2015 

Phát huy lợi thế về rừng và đất lâm nghiệp rộng lớn, những năm qua huyện đã tập trung cao chỉ đạo thực hiện Chương trình phát triển Nông, lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá. Phong trào trồng rừng kinh tế phát triển mạnh, giai đoạn 2006 - 2010, toàn huyện trồng mới được 8.426,3 ha rừng tập trung (trong đó, trồng rừng bằng vốn tự có của nhân dân được 4.984 ha), trồng cây phân tán được 446,4 ha, khoanh nuôi tái sinh rừng 3.478 ha. Đã chỉ đạo, tổ chức bàn giao được 4.504,24 ha rừng và đất lâm nghiệp của các tổ chức cho nhân dân quản lý. Quan tâm chỉ đạo chuyển đổi, cải tạo 510,6 ha rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng rừng kinh tế,… độ che phủ của rừng đạt 62,2%, nhiều hộ gia đình ở các xã: Vân Sơn, Hữu Sản, Dương Hưu đã có thu nhập từ 200 đến 300 triệu đồng từ thu hoạch chu kỳ đầu rừng kinh tế, giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt 43,11 tỷ đồng. Công tác quản lý bảo vệ rừng được quan tâm chỉ đạo. Đối với sản xuất nông nghiệp, huyện tập trung cao chỉ đạo nhân dân chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, đưa các loại giống cây, con mới và áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Năm 2012, Tổng sản lượng lương thực cây có hạt đạt 27.000 tấn, vượt mục tiêu nghị quyết ĐHĐB huyện lần thứ XXIV đề ra đến năm 2015.

Toàn huyện có 513 cơ sở sản xuất CN - TTCN với 1.730 lao động. Ngành nghề chủ yếu là sản xuất giấy, bột giấy, hương nến, khai thác cát sỏi, sản xuất giầy dép da, may mặc, sản xuất gạch, rèn, cơ khí, đồ mộc dân dụng, Giá trị sản xuất công nghiệp - TTCN năm 2012 ước đạt 50 tỷ đồng, tăng 18,76% so với năm 2011; trong đó kinh tế hợp tác xã đạt 7,092 tỷ đồng, tăng 9,28 %; kinh tế hỗn hợp đạt 16,834 tỷ đồng, tăng 10,09%; kinh tế cá thể ước đạt 19,997 tỷ đồng, tăng 10,84% so với năm trước. Nhìn chung các ngành sản xuất công nghiệp- TTCN đều tăng cả về số lượng và chất lượng.

Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có 1 số doanh nghiệp lớn của Trung ương và Quân đội đang hoạt động sản xuất kinh doanh như: Nhà máy may Sơn Động thuộc Tập đoàn DMVN, Nhà máy Nhiệt điện SĐ, Nhà máy Luyện đồng, Công ty TNHH 1 thành viên 45, tạo việc làm ổn định cho hơn 2000 lao động là người địa phương, mỗi năm đóng góp khoảng 100 tỉ đồng vào ngân sách tỉnh Bắc Giang và huyện Sơn Động.

Hoạt động Tài chính - Ngân hàng và một số ngành dịch vụ thương mại: Giao thông - Vận tải, Bưu chính - Viễn thông, lưu chuyển hàng hoá, các dịch vụ phục vụ phát triển Công nghiệp - TTCN, Nông nghiệp... ngày càng phát triển, đáp ứng nhu cầu của nhân dân.Cơ sơ hạ tầng được quan tâm đầu tư, xây dựng. Giai đoạn 2006 - 2010,tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn nhà nước do huyện quản lý đạt 727 tỷ đồng, bình quân hàng năm tăng 9,08%, năm 2011 = 130 tỷ đồng và năm 2012 là trên 132 tỉ đồng. Đầu tư làm mới và sử chưa hàng trăm công trình thuỷ lợi, đường giao thông, trường học, trạm y tế. Nhiều công trình trọng điểm được đầu tư xây dựng như: Trung tâm Thị trấn Thanh Sơn, chợ Trung tâm huyện, đường Cẩm Đàn - Thạch Sơn, đường Yên Định- Thanh Luận, đường trung tâm Thị trấn Thanh Sơn, Nhà làm việc liên cơ quan; các công trình nước sinh hoạt tập trung ở các xã, khu trung tâm huyện, nước sinh hoạt nhóm hộ được đầu tư xây dựng; 22/23 xã, thị trấn có điện lưới quốc gia (xã Thạch Sơn chưa có điện lưới quốc gia), 14/23 xã, thị trấn đã và đang đầu tư xây dựng trụ sở làm việc (Vĩnh Khương, An Lạc, Hữu Sản, Thị trấn An Châu, Cẩm Đàn,Phúc Thắng, Thạch Sơn, Tuấn Đạo, Yên Định, thị trấn Thanh Sơn, Tuấn Mậu, Long Sơn, Dương Hưu, An Lập ), tạo cho diện mạo nông thôn miền núi ngày thêm khởi sắc. 

 

Thanh Sơn, Thị trấn công nghiệp Điện - Than của huyện Sơn Động từng ngày khởi sắc 

Lĩnh vực văn hóa - xã hội luôn được quan tâm đầu tư phát triển. Hệ thống mạng lưới, quy mô và loại hình trường lớp tiếp tục được củng cố và phát triển, tỷ lệ phòng học kiên cố đạt trên 83%, cao hơn mức bình quân chung của tỉnh, Tỷ lệ trường học đạt chuẩn Quốc gia đạt 51,6%, chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên, số học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng tăng đều qua các năm, đã có học sinh thi đỗ thủ khoa Đại học (năm 2010), nhận học bổng toàn phần du học nước ngoài (năm 2012)...

 

Chủ tịch UBND huyện Trần Công Thắng trao giấy khen tặng em Hoàng Phi Lan,

   dân tộc Tày ở xã An Bá - Thủ khoa ĐHSP Thái Nguyên năm 2010 ( 26,65 điểm) 

Công tác chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân được tăng cường, Bệnh viện đa khoa Sơn Động với quy mô 120 giường bệnh đang được đầu tư mở rộng, nâng cấp, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế tại các tuyến được quan tâm đầu tư. Toàn huyện có 19/23 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế, 18/23 trạm y tế xã có bác sĩ, chất lượng khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được nâng lên, đội ngũ cán bộ y tế được tăng cường cả về số lượng và chất lượng; tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên hàng năm bằng 1,2%.

Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” được các cấp, các ngành và nhân dân hưởng ứng tích cực, việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội đã được đưa vào quy ước, hương ước của bản, làng, thôn, khu phố và được nhân dân đồng tình hưởng ứng, một số Lễ hội văn hoá truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc như Hội hát Soong Hao tại khu vực 6 xã Cẩm Đàn, Hội hát Then khu vực Vân Sơn, Hội bơi chải khu trung tâm huyện được khôi phục và duy trì hàng năm. Năm 2011, toàn huyện có 13.454/ 16.990 hộ = 79,1% được công nhận gia đình văn hóa (tăng 2,1% so với năm trước); 71/178 làng, bản, khu phố văn hoá, chiếm 40,%; có 159/172 cơ quan đạt danh hiệu văn hoá, đạt 92,44%, tăng 16 cơ quan so năm 2010, (có 7 làng và 16 cơ quan được công nhận văn hóa cấp tỉnh), có khoảng 14% dân số tham gia luyện tập thể dục thể thao thường xuyên.

Thực hiện tốt chính sách xã hội, giải quyết việc làm. Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện về mọi mặt, số hộ khá và giầu tăng, hộ nghèo giảm còn 41,11%, huyện đã hoàn việc xóa nhà ở tạm cho các hộ nghèo theo chương trình 167 và 67 của Thủ tướng Chính phủ; tỷ lệ phủ sóng phát thanh đạt 95,4%, phủ sóng truyền hình đạt 90%. An ninh chính trị, TTATXH luôn ổn định và thường xuyên được giữ vững.

Các tin khác

Pages