Điều kiện tự nhiên

Huyện Sơn Động có địa hình dốc dần từ đông bắc xuống tây nam, độ dốc khá lớn, đặc biệt là các xã nằm ven dãy núi Yên Tử (bình quân trên 250). Độ cao trung bình của huyện là 450m so với mặt nước biển, cao nhất là đỉnh núi Yên Tử (1.068m), thấp nhất là 52m, cá biệt khu vực Ba Khe (Tuấn Đạo) chỉ cao hơn mực nước biển 24m. 

 Rừng nguyên sinh Tây Yên tử ( thuộc địa phận xã Tuấn Mậu, Sơn Động) 

Do đặc điểm địa hình, ruộng đất phần lớn bậc thang xen kẽ giữa các triền núi, lớn nhất là cánh đồng Sầy (xã Tuấn Đạo) đã đi vào câu ca:

Thứ nhất là đồng Quảng La(1)
Thứ nhì đồng Biển(2), thứ ba đồng Sầy

Sông suối trong huyện chiếm 1,53% diện tích tự nhiên (1.292 ha). Trên địa bàn huyện có một sông chính chảy qua, đó là sông Lục Nam còn có tên gọi là Minh Đức. Trên địa phận Sơn Động, sông Lục Nam còn có các tên gọi sôngBè (hay sông An Châu). Sông Lục Nam bắt nguồn từ Đình Lập (Lạng Sơn), chảy vào Sơn Động ở Hữu Sản qua địa phận Sơn Động dài khoảng 40km. Sông Lục Nam hoà cùng núi rừng trùng điệp của vùng đông bắc tạo nên một thắng cảnh hùng vĩ “Một trường giang đẹp nhất Bắc Kỳ”(3). Từ Hữu Sản đến Khe Rỗ (An Lạc), sông chảy theo hướng đông bắc - tây nam, đến Lệ Viễn đổi hướng đông - tây chảy qua An Lập, An Châu, An Bá, Yên Định rồi hợp lưu với ba nhánh sông khác, đó là:

Sông Rãng bắt nguồn từ xã Long Sơn chảy qua xã Dương Hưu, một phần xã An Lạc, qua xã An Châu, gặp sông Lục Nam ở xã An Bá. Nhánh sông này dài khoảng 26km.

Sông Cẩm Đàn bắt nguồn từ khu vực xã Thạch Sơn hợp lưu với sông Thảo (huyện Lục Ngạn) ở Chiên Sơn rồi chảy qua các xã Phúc Thắng, Quế Sơn, Chiên Sơn, Cẩm Đàn theo hướng bắc - nam. Đến Cẩm Đàn, sông đổi hướng đông - bắc chảy qua xã Yên Định nhập với sông Lục Nam. Nhánh sông này dài khoảng 21km.

Sông Tuấn Đạo gồm hai nhánh: Một nhánh bắt nguồn từ khu vực tây bắc Yên Tử, một nhánh bắt nguồn từ xã Bồng Am chảy qua xã Tuấn Đạo ở Bãi Chợ nhập  vào sông Lục Nam ở Đồng Hả (xã Yên Định). Sông này dài khoảng 15km.

Nhìn chung, mật độ sông suối của huyện khá dầy, nhưng phần lớn là đầu nguồn nên lòng sông, suối hẹp, độ dốc lớn, lưu lượng nước hạn chế, đặc biệt về mùa khô.

Sơn Động ở cách biển không xa, nhưng do bị án ngữ bởi dãy núi Yên Tử ở phía nam nên có đặc điểm khí hậu lục địa vùng núi. Hàng năm có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Mùa xuân và mùa thu là hai mùa chuyển tiếp, khí hậu ôn hoà; mùa hạ nóng, mưa nhiều; mùa đông lạnh, khô hanh, ít mưa. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,60C, nhiệt độ trung bình cao nhất là 32,90C, nhiệt độ trung bình thấp nhất là 11,60C. Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.564mm, thuộc khu vực có lượng mưa trung bình trong vùng. Số ngày mưa trung bình trong năm là 128,5 ngày, những ngày có lượng mưa lớn nhất vào tháng 8, đạt 310,6mm. Do nằm trong khu vực che chắn bởi vòng cung Đông Triều nên huyện Sơn Động ít chịu ảnh hưởng của bão.

Đất đai của huyện khá đa dạng, phong phú với nhiều loại đất được phân bố ở cả địa hình bằng và địa hình dốc, cho phép phát triển hệ sinh thái nông - lâm nghiệp với nhiều loại cây trồng có giá trị, từ cây lương thực như lúa và rau màu trên các dải đất phù sa dọc theo các sông suối, đến việc khai thác đất dốc  trồng các loại cây ăn quả và cây lấy gỗ. Sơn Động có 59.273 ha rừng (năm 2010), trong đó diện tích rừng tự nhiên có 38.675 ha, diện tích rừng trồng có 20.598 ha. Rừng tự nhiên phân bố chủ yếu ở các xã An Lạc, Vân Sơn, Hữu Sản, Dương Hưu, thị trấn Thanh Sơn, Tuấn Mậu, Thanh Luận, Bồng Am, Tuấn Đạo... Đặc biệt trong Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, thảm thực vật rừng có độ che phủ lớn (68%), chủ yếu là các loài cây bản địa và các loại gỗ quý như lim, lát, pơmu, thông tre, sến, táu, dẻ...Diện tích rừng trồng ngày càng tăng với các Chương trình 327, Chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc, Dự án khu bảo tồn thiên nhiên tây Yên Tử... do đó diện tích rừng ở các vùng dự án ngày càng phát triển, không chỉ góp phần nâng độ che phủ của rừng, giữ gìn môi sinh, bảo tồn nguồn gien và tính đa dang sinh học mà còn phục vụ đắc lực cho công cuộc phát triển kinh tế từ rừng, cải thiện cuộc sống người dân.   

Về động vật, trước đây khi diện tích rừng tự nhiên còn lớn, Sơn Động có rất nhiều loài chim, thú quý hiếm như: hổ, báo, hươu, gấu, lợn rừng, khỉ... Hiện nay, do môi trường sinh sống bị thu hẹp nên chỉ còn lại một số loài như khỉ, hươu, lợn rừng... Đặc biệt ở khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử có loài voọc đen là loài động vật quý hiếm ở Việt Nam cũng như trên thế giới.

Theo kết quả thăm dò, tài nguyên khoáng sản của Sơn Động có mỏ đá xây dựng ở An Lạc, mỏ đồng ở Cẩm Đàn, mỏ than đá ở Đồng Rì (thị trấn Thanh Sơn)... Một số mỏ đã được khai thác như mỏ đồng ở Cẩm Đàn, mỏ than ở Đồng Rì.       

 

 Công nghiệp Điện - Than tại thôn Đồng Rì, thị trấn Thanh Sơn 

Mạng lưới giao thông của huyện chủ yếu là đường bộ, được phân bố tương đối hợp lý. Toàn huyện có 1142km đường bộ (năm 2010), gồm: Đường quốc lộ có hai tuyến dài 65km, trong đó Quốc lộ 31 (trước đây là quốc lộ 13B) từ Cẩm Đàn qua thị trấn An Châu đến Hữu Sản sang Lạng Sơn dài 38km, Quốc lộ 279 từ thị trấn An Châu đi Quảng Ninh dài 27km. Đường tỉnh lộ có 2 tuyến: Đường 291 có điểm đầu tại ngã ba Yên Định, điểm cuối ở Nhà máy Nhiệt điện Đồng Rì, dài 23km; Đường 293 (đoạn qua Sơn Động) từ khu vực Đèo Bụt (xã Tuấn Mậu) nối với Quốc lộ 279 ở chân đèo Hạ Mi (xã Long Sơn), dài 21km. Đường tuyến huyện có tổng chiều dài 96km. Đường tuyến xã có tổng chiều dài 202km. Đường tuyến thôn, bản, nội đồng có tổng chiều dài 735km.     

Công trình đường liên xã An Lập - Vân Sơn ( Sơn Động )    

Đặc điểm đất đai, khí hậu, thuỷ văn ở Sơn Động đã tạo cho huyện một thảm thực vật hết sức phong phú, đa dạng. Bên cạnh đó nguồn tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản dồi dào cũng là một tiềm năng, thế mạnh của huyện mà cán bộ và nhân dân các dân tộc Sơn Động đã và đang phát huy có hiệu quả phục vụ cho phát triển kinh tế, cải thiện cuộc sống người dân.

 

*Chú thích:

(1) Quảng La thuộc huyện Hoành Bồ (Quảng Ninh).

(2) Biển thuộc xã Biển Động, huyện Lục Ngạn.

(3) Trịnh Như Tấu: Bắc Giang địa chí

Các tin khác

Pages